Nhọt là ổ mủ dưới da do nhiễm khuẩn quanh nang lông. Theo NHS, phần lớn nhọt tự khỏi khi được chườm ấm, giữ sạch và không nặn. Kháng sinh không phải lúc nào cũng cần; với ổ mủ, điều trị chính là tháo mủ do nhân viên y tế làm. Kháng sinh được cân nhắc khi có sốt, da quanh nhọt đỏ nóng lan rộng, nhọt ở mặt hoặc người suy giảm miễn dịch.
- Nhọt là khối cứng, đau, chứa mủ; nhiều nhọt dính nhau gọi là cụm nhọt (hậu bối).
- Không nặn, chọc hoặc trích nhọt tại nhà; việc tháo mủ nên để nhân viên y tế làm.
- NHS hướng dẫn chườm ấm khoảng 10 phút, 4 lần mỗi ngày; phần lớn nhọt tự khỏi.
- Với ổ mủ, chích tháo mủ là điều trị chính; kháng sinh chỉ dùng khi bác sĩ thấy cần.
- Da đỏ, nóng, sưng lan rộng kèm sốt có thể là viêm mô tế bào, cần khám ngay.
Nhọt, áp xe da và các nhiễm khuẩn da thường gặp
Một số dạng nhiễm khuẩn da hay gặp:
- Nhọt: theo NHS (Anh), là khối cứng, đau, dần chứa đầy mủ. Nhiều nhọt mọc thành cụm gọi là cụm nhọt (carbuncle).
- Áp xe da: theo MedlinePlus, là ổ mủ tích tụ trong hoặc trên da, thường do vi khuẩn xâm nhập qua vết thương nhỏ, nhọt hoặc nang lông bị viêm.
- Chốc lở: nhiễm khuẩn nông ở da, rất dễ lây, hay gặp ở trẻ em, với các nốt đỏ hoặc bọng nước vỡ nhanh rồi đóng vảy màu vàng nâu, thường ở quanh mũi, miệng và tay.
- Viêm mô tế bào: nhiễm khuẩn lớp sâu hơn của da, làm da đau, nóng, sưng; NHS cho biết bệnh có thể nghiêm trọng nếu không điều trị sớm và cần kháng sinh.
NHS cho biết nhọt gặp nhiều hơn ở nam giới, người bị chàm, đái tháo đường, béo phì hoặc đang dùng thuốc ức chế miễn dịch.
Tự chăm sóc nhọt nhỏ thế nào?
Với nhọt nhỏ ở người khoẻ mạnh, NHS hướng dẫn:
- Chườm ấm bằng khăn sạch khoảng 10 phút, 4 lần mỗi ngày.
- Rửa sạch vùng da bằng xà phòng, che bằng gạc hoặc băng sạch trong lúc lành.
- Dùng paracetamol hoặc ibuprofen nếu đau, theo tờ hướng dẫn sử dụng.
- Tắm rửa hằng ngày, giặt khăn và ga giường ở nhiệt độ cao.
Những điều không nên làm:
- Không nặn, chọc hoặc dùng kim trích nhọt. MedlinePlus và CDC cùng khuyên không ép, nặn hay bóc vảy các nốt nghi nhiễm khuẩn.
- Không dùng chung khăn, dao cạo cho đến khi lành.
- Tạm tránh bể bơi, phòng tập dùng chung để không lây cho người khác.
Khi nào thì cần kháng sinh?
Nhiều người nghĩ cứ có mủ là phải uống kháng sinh. Thực tế, với ổ mủ khu trú, CDC cho biết điều trị chính là chích rạch và tháo mủ, do nhân viên y tế thực hiện sau khi gây tê; kháng sinh có thể cần thêm tuỳ trường hợp. NHS cũng nêu bác sĩ có thể tháo mủ hoặc kê kháng sinh nếu cần.
Bác sĩ thường cân nhắc kháng sinh khi:
- có sốt hoặc biểu hiện toàn thân;
- vùng da quanh nhọt đỏ, nóng, sưng và lan rộng, gợi ý viêm mô tế bào;
- nhọt ở vùng mặt;
- người bệnh suy giảm miễn dịch, đái tháo đường;
- đã tháo mủ mà không đỡ.
Với viêm mô tế bào, NHS cho biết thường được điều trị bằng kháng sinh đường uống trong khoảng một tuần, và cần dùng đủ liệu trình kể cả khi đã thấy đỡ. Với chốc lở, dược sĩ hoặc bác sĩ có thể khuyên dùng kem hydrogen peroxide, kem kháng sinh, hoặc thuốc uống khi lan rộng. Loại thuốc và thời gian dùng luôn theo chỉ định của bác sĩ.
Tụ cầu kháng thuốc (MRSA) là gì?
MRSA là tụ cầu vàng kháng methicillin, kháng với nhiều kháng sinh thông dụng. Theo CDC, nhiễm MRSA ở da thường biểu hiện là một nốt hoặc vùng da đỏ, sưng, đau, nóng khi sờ, có mủ hoặc dịch, có thể kèm sốt. Biểu hiện này rất giống nhọt thông thường, nên chỉ nhìn bằng mắt không phân biệt được.
CDC khuyên nếu nghi nhiễm khuẩn da: không nặn, che vết thương bằng băng khô sạch, rửa tay thường xuyên, không dùng chung đồ cá nhân và đi khám. MRSA vẫn điều trị được, nhưng bác sĩ cần chọn thuốc phù hợp, đôi khi dựa vào kết quả cấy mủ. Đây cũng là lý do không nên tự mua kháng sinh: dùng sai thuốc vừa không hiệu quả vừa thúc đẩy kháng thuốc.
Nhọt bao lâu thì khỏi, phòng tái phát thế nào?
NHS khuyên đi khám nếu nhọt không đỡ sau 2 tuần tự chăm sóc. Chốc lở thường đỡ sau vài ngày điều trị, và hết lây khoảng 48 giờ sau khi bắt đầu dùng thuốc, theo NHS; trẻ nên nghỉ học đến lúc đó.
Để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn da và tái phát:
- Rửa sạch vết xước, vết thương nhỏ ngay và giữ sạch.
- Giữ da sạch và đủ ẩm.
- Không dùng chung khăn, dao cạo, quần áo.
Người bị nhọt tái đi tái lại nhiều lần nên đi khám để tìm yếu tố thuận lợi như đái tháo đường hoặc suy giảm miễn dịch.
Khi nào cần đi khám ngay
- Vùng da quanh nhọt nóng, đau, sưng, hoặc da đỏ sưng lan rộng nhanh.
- Sốt, cảm giác nóng lạnh, rét run; nếu kèm tim đập nhanh, thở nhanh, chóng mặt, lú lẫn, da lạnh ẩm thì cần cấp cứu ngay.
- Nhọt ở vùng mặt.
- Cụm nhọt (nhiều nhọt dính nhau) hoặc nhọt tái đi tái lại.
- Nhọt không đỡ sau 2 tuần tự chăm sóc.
- Người đái tháo đường, suy giảm miễn dịch, đang dùng corticoid bị nhọt.
- Trẻ dưới 12 tháng tuổi bị chốc lở.
Câu hỏi thường gặp
Có nên nặn nhọt cho nhanh khỏi?
Không. NHS, MedlinePlus và CDC đều khuyên không nặn, chọc hay trích nhọt. Nếu cần tháo mủ, hãy để nhân viên y tế thực hiện.
Bị nhọt có cần uống kháng sinh ngay không?
Không phải lúc nào cũng cần. Theo NHS, phần lớn nhọt tự khỏi khi được chăm sóc đúng. Với ổ mủ lớn, tháo mủ là điều trị chính; kháng sinh chỉ dùng khi bác sĩ thấy cần.
Bôi kem kháng sinh có thay được uống thuốc không?
Tuỳ loại nhiễm khuẩn. Với chốc lở khu trú, kem bôi có thể đủ, theo NHS. Với viêm mô tế bào thì cần kháng sinh đường uống. Bác sĩ sẽ chọn dạng thuốc phù hợp.
Nhọt có lây không?
Vi khuẩn gây nhọt có thể lây qua tiếp xúc và đồ dùng chung. NHS khuyên không dùng chung khăn và tạm tránh bể bơi, phòng tập cho đến khi lành. Chốc lở thì rất dễ lây, nhất là ở trẻ em.
Vì sao tôi hay bị nhọt?
Nhọt gặp nhiều hơn ở người đái tháo đường, béo phì, bị chàm hoặc dùng thuốc ức chế miễn dịch. Nếu bị nhiều lần, nên đi khám để kiểm tra đường huyết và các yếu tố khác.
Nguồn tham khảo
- NHS. Boils and carbuncles. www.nhs.uk/conditions/boils/
- NHS. Cellulitis. www.nhs.uk/conditions/cellulitis/
- NHS. Impetigo. www.nhs.uk/conditions/impetigo/
- MedlinePlus / NIH. Skin abscess. medlineplus.gov/ency/article/000863.htm
- CDC. About MRSA. www.cdc.gov/mrsa/about/index.html
- CDC. MRSA: Outpatient Management. www.cdc.gov/mrsa/healthcare/outpatient.html
Bài viết tổng hợp từ các nguồn y khoa chính thống nêu trên, nhằm cung cấp thông tin tham khảo; không thay thế chẩn đoán, điều trị của bác sĩ hay tư vấn của dược sĩ. Khi dùng thuốc, hãy đọc kỹ tờ hướng dẫn sử dụng.
PharbacoDược phẩm Việt từ 1954